Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận liệu pháp miễn dịch đầu tiên cho bệnh ung thư vú

0
125
Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận liệu pháp miễn dịch đầu tiên cho bệnh ung thư vú
Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận liệu pháp miễn dịch đầu tiên cho bệnh ung thư vú
Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận liệu pháp miễn dịch đầu tiên cho bệnh ung thư vú
4.5 (90%) 2 votes

Người dịch: Hoàng Thị Kim Quý- Đại học Duy Tân

Hiệu đính: DS. Nguyễn Quỳnh Anh – BVQT Phương Châu

Nguồn: Nick Mulcahy (08/03/2019). FDA Approves First Immunotherapy for Breast Cancer. Medscape. Link

Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ gần đây đã nhanh chóng cấp phê duyệt cho atezolizumab ( Tecentriq , Genentech / Roche) kết hợp với thuốc hóa trị liệu nab -paclitaxel ( Abraxane , Celgene) cho lựa chọn đầu tay của điều trị ung thư vú giai đoạn tiến triển tại chỗ không thể phẫu thuật hoặc di căn, ung thư vú bộ 3 âm tính PD-L1 (TNBC)

Atezolizumab là liệu pháp miễn dịch đầu tiên được chấp thuận cho bệnh ung thư vú.

Việc phê duyệt dựa trên kết quả của tỉ lệ sống còn không tiến triển và việc phê duyệt tiếp tục có thể phụ thuộc vào dữ liệu thử nghiệm xác nhận.

Sự chấp thuận mới của sự kết hợp này dựa trên kết quả về sự an toàn và hiệu quả từ thử nghiệm đa trung tâm IMpassion130 , kết quả đã được trình bày tại Hội nghị Ung thư y tế châu Âu (ESMO) 2018 và  được công bố đồng thời  trên  Tạp chí Y học New England.

Thử nghiệm đã tiến hành ngẫu nhiên trên 451 bệnh nhân mắc bệnh ung thư vú bộ 3 âm tính di căn hoặc hoặc tiến triển tại chỗ sử dụng atezolizumab và 451 bệnh nhân sử dụng giả dược. Tất cả 902 bệnh nhân cũng đã được dùng nab -paclitaxel.

Trong nhóm bệnh nhân phân bố ngẫu nhiên ban đầu (ITT) này, atezolizumab làm giảm đáng kể nguy cơ tiến triển bệnh hoặc tử vong (sống sót không tiến triển; PFS) so với giả dược (PFS trung bình = 7,2 so với 5,5 tháng;  tỉ số nguy cơ [HR] = 0,80 , Khoảng tin cậy 95% [CI], 0,69 – 0,92, P = 0,0025).

Atezolizumab cũng cải thiện thời gian sống còn toàn bộ (OS) trung bình, nhưng không có ý nghĩa thống kê tại thời điểm phân tích tạm thời (21,3 so với 17,6 tháng; HR = 0,84, 95% CI, 0,69 – 1,02, P = 0,0840).

Những chỉ tiêu chính được điều tra đánh giá; theo dõi trung bình là 12,9 tháng.

Các nhà thử nghiệm cũng thực hiện phân tích phân nhóm trong số những bệnh nhân có PD-L1 +, được định nghĩa là biểu hiện ≥ 1% trên các tế bào miễn dịch xâm nhập khối u. Trong phân tích này, nhóm atezolizumab bao gồm 185 bệnh nhân và nhóm giả dược bao gồm 184 bệnh nhân.

Trong nhóm bệnh nhân PD-L1 + này, atezolizumab làm giảm đáng kể nguy cơ tiến triển bệnh hoặc tử vong (PFS trung bình = 7,5 so với 5,0 tháng; HR = 0,62, KTC 95%, 0,49 – 0,78, P <0,0001). Liệu pháp miễn dịch cũng cải thiện thời gian sống còn toàn bộ trung bình (25,0 so với 15,5 tháng; HR = 0,62,  95% CI, 0,45 – 0,86).

Khi trình bày những kết quả này năm ngoái , tác giả chính của nghiên cứu, Tiến sĩ, Bác sĩ Peter Schmid, Trung tâm Ung thư vú St. Bartholomew, Barts Health NHS Trust, London, Vương quốc Anh, cho biết, trong phân nhóm PD-L1 +, “chúng tôi thấy sự khác biệt sống còn toàn bộ trong gần 10 tháng, mà tôi nghĩ đây là một sự khích lệ quan trọng để xem loại thuốc này là một tiêu chuẩn mới.”

Tuy nhiên, Bác sĩ Kathy Miller thuộc Trung tâm Ung thư IU Simon tại Đại học Indiana, Indianapolis, không chắc chắn về kết luận đó vì kết quả của tỷ lệ sống còn toàn bộ không phải là kết quả cuối cùng. Trong một bài bình luận của Medscape về thử nghiệm này , cô nói: “Các tác giả của nghiên cứu IMpassion130 kết luận rằng atezolizumab kết hợp với nab-paclitaxel là một tiêu chuẩn chăm sóc mới trong nhóm có PD-L1 dương tính. Về điểm này, tôi phải nhận định rằng tôi không đồng ý. Những kết quả đã được báo cáo cho đến nay là một sự cải thiện rất khiêm tốn trong tỷ lệ sống còn không tiến triển. Chúng tôi thực sự không biết liệu có sự cải thiện trong sự sống còn toàn bộ hay không. ”

Trong thử nghiệm lâm sàng, atezolizumab được dùng với liều cố định là 840 mg truyền tĩnh mạch (IV) vào ngày 1 và 15 của mỗi chu kỳ 28 ngày cho đến khi bệnh tiến triển hoặc độc tính không chấp nhận được. Nab-paclitaxel được dùng với liều khởi đầu 100 mg / m 2 truyền tĩnh mạch vào các ngày 1, 8, và 15 của mỗi chu kỳ 28 ngày.

Thời gian trung bình của việc điều trị atezolizumab và nab-paclitaxel trong nhóm atezolizumab lần lượt là 24,1 tuần và 22,1 tuần, và thời gian trung bình của việc điều trị giả dược và nab-paclitaxel trong nhóm giả dược lần lượt là 22,1 tuần và 21,8 tuần.

Trong thời gian nghiên cứu, có 358 (79,4%) bệnh nhân trong nhóm atezolizumab và 378 (83,8%) bệnh nhân trong nhóm giả dược có tiến triển bệnh hoặc tử vong.

Các nhà điều tra báo cáo rằng các tác dụng phụ (AE) phù hợp với hồ sơ an toàn của thuốc nghiên cứu; không có dấu hiệu an toàn mới nào được xác định với sự kết hợp của atezolizumab  và nab -paclitaxel.

Các tác dụng phụ nghiêm trọng (SAE) đã được báo cáo ở 23% bệnh nhân của nhóm atezolizumab so với 18% của nhóm giả dược.

Tác dụng phụ cấp 3-4 đã xảy ra ở 49% bệnh nhân của nhóm atezolizumab so với 42% của nhóm giả dược. Phổ biến nhất là giảm bạch cầu trung tính (8%); bệnh thần kinh ngoại biên (6%); sự giảm số lượng bạch cầu trung tính (5%); mệt mỏi (4%); và thiếu máu (3%).

Nguồn: Nhịp cầu dược lâm sàng